Năm 1953, trước nguy cơ thất bại, thực dân Pháp triển khai Kế hoạch Nava, xây dựng Điện Biên Phủ thành Tập đoàn cứ điểm mạnh nhất Đông Dương nhằm tiêu diệt chủ lực của ta: 49 cứ điểm, chia thành ba phân khu Bắc, Trung, Nam; một hệ thống phòng ngự liên hoàn kiên cố với hỏa lực mạnh, xe tăng, pháo binh, sân bay và sự hậu thuẫn tối đa từ vũ khí, phương tiện chiến tranh hiện đại do Mỹ viện trợ. Pháp tin rằng Điện Biên Phủ là “pháo đài bất khả xâm phạm”, là chiếc bẫy thép đủ sức nghiền nát chủ lực của Quân đội Nhân dân Việt Nam.
Ngày 7/5/1954, chiến dịch lịch sử Điện Biên Phủ kết thúc thắng lợi, toàn bộ tập đoàn cứ điểm của địch ở Điện Biên Phủ đã bị quân ta tiêu diệt, lá cờ "Quyết chiến quyết thắng" đang phấp phới bay trên nóc hầm Tướng De Castries. Ảnh tư liệu
Trước tình hình đó, cuối tháng 12/1953, Bộ Chính trị Trung ương Đảng quyết định chọn Điện Biên Phủ làm điểm quyết chiến chiến lược của cuộc chiến Đông Xuân 1953–1954. Đại tướng Võ Nguyên Giáp được giao trọng trách Bí thư Đảng ủy kiêm Chỉ huy trưởng Mặt trận Điện Biên Phủ. Trước giờ ra trận, Chủ tịch Hồ Chí Minh căn dặn Đại tướng bằng một mệnh lệnh ngắn gọn mà trở thành nguyên tắc lớn của nghệ thuật cầm quân: “Trận này rất quan trọng, phải đánh cho thắng. Chắc thắng mới đánh, không chắc thắng không đánh”.Nếu thực dân Pháp xây dựng Điện Biên Phủ bằng sắt thép, bê tông và hỏa lực, thì quân và dân Việt Nam tiến vào Điện Biên Phủ bằng ý chí, niềm tin và sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc “Tất cả cho tiền tuyến, tất cả để chiến thắng” không chỉ là lời hiệu triệu, đó là mệnh lệnh từ trái tim của cả dân tộc.

Ngày 6/12/1953, Bộ Chính trị tổ chức cuộc họp dưới sự chủ trì của Chủ tịch Hồ Chí Minh để nghe Tổng Quân ủy báo cáo và duyệt lần cuối kế hoạch tác chiến Đông-Xuân 1953-1954,
đồng thời quyết định mở Chiến dịch Điện Biên Phủ. Ảnh tư liệu
Chiến dịch Điện Biên Phủ kéo dài 56 ngày đêm (từ 13/3 đến 7/5/1954) với khí thế "Khoét núi, ngủ hầm, mưa dầm, cơm vắt", hàng chục vạn bộ đội chủ lực, dân công hỏa tuyến và nhân dân – những con người đã sẵn sàng hy sinh tuổi trẻ, thậm chí cả tính mạng để giành lấy độc lập, tự do cho dân tộc đồng thời tạo nên những mốc son lịch sử sáng ngời: Ngày 13/3/1954 quân đội ta nổ súng mở màn chiến dịch, tiêu diệt cứ điểm Him Lam; ngày 14–17/3/1954 quân ta tiếp tục tiêu diệt các cứ điểm Độc Lập, Bản Kéo, phá vỡ phòng tuyến phía Bắc; ngày 30/3 – 26/4/1954 quân ta tiến công các cứ điểm phía Đông, làm chủ nhiều cứ điểm quan trọng, khống chế sân bay Mường Thanh; ngày 01/5/1954 quân đội ta mở đợt tổng tiến công trên toàn mặt trận. Với ý chí kiên cường và lòng yêu nước quả cảm, toàn bộ lực lượng vũ trang của quân đội và nhân dân Việt Nam đã dồn vào cuộc chiến ngày 06/5/1954, ta đã nổ bộc phá tiêu diệt cứ điểm đồi A1 – vị trí then chốt của địch. Vào lúc 17h30 ngày 07/5/1954 tướng Đờ Cát-xtơ-ri (chỉ huy trưởng Tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ của Pháp) bị bắt sống tại hầm chỉ huy, đánh dấu sự sụp đổ của thực dân Pháp tại Đông Dương.
Chiến thắng Điện Biên Phủ trước hết là thắng lợi của đường lối lãnh đạo đúng đắn, sáng tạo của Đảng, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh; là kết tinh của tinh thần yêu nước nồng nàn, ý chí quật cường của toàn dân tộc; là sự trưởng thành vượt bậc của Quân đội Nhân dân Việt Nam; đồng thời là kết quả của sự ủng hộ quý báu của bạn bè quốc tế.

21.000 xe đạp thồ, 261.500 dân công cùng các loại ô tô, tàu, thuyền, lừa, ngựa… ngày đêm vận chuyển lương thực, vũ khí, đạn dược lên mặt trận Điện Biên Phủ. Sự đóng góp to lớn của lực lượng dân công, đảm bảo hậu cần cho chiến dịch là một trong những nguyên nhân chính làm nên chiến thắng. Ảnh tư liệu
Kỷ niệm 72 năm Chiến thắng Điện Biên Phủ (là dịp để toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta tri ân, tưởng nhớ đồng bào, đồng chí, cán bộ, chiến sĩ đã anh dũng hy sinh vì Tổ quốc; tri ân sự giúp đỡ to lớn, chí nghĩa, chí tình của bạn bè quốc tế. Đồng thời, tiếp tục hun đúc tinh thần yêu nước, lòng tự hào dân tộc; tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc; khơi dậy khát vọng hòa bình, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại để phát triển đất nước.
Có thể nói, Điện Biên Phủ không chỉ là một chiến thắng của quá khứ, mà còn là nguồn cảm hứng cho hiện tại và tương lai. Nó nhắc nhở mỗi người trẻ rằng: Dù ở bất kỳ thời đại nào, dân tộc Việt Nam vẫn cần những con người có lý tưởng, bản lĩnh và khát vọng cống hiến. Thế hệ trẻ Việt Nam hôm nay được sinh ra và lớn lên trong hòa bình, được tiếp cận với tri thức toàn cầu và khoa học công nghệ hiện đại. Đó là một lợi thế lớn nhưng cũng đi kèm với trách nhiệm không nhỏ. Nếu như cha ông ngày trước cầm súng để bảo vệ Tổ quốc, thì người trẻ hôm nay cần tri thức để xây dựng và phát triển đất nước.
Trong bài viết Thanh niên với tương lai đất nước, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh: “Tôi mong thanh niên Việt Nam hôm nay luôn ghi nhớ: Yêu nước trong thời đại mới không chỉ thể hiện bằng cảm xúc, mà phải được thể hiện bằng tri thức, năng lực hành động, tinh thần chinh phục những đỉnh cao mới của khoa học - công nghệ và ý chí làm chủ tương lai đất nước”.
Trong nhịp sống hiện đại, không ít người trẻ dễ bị cuốn theo những giá trị vật chất, đôi khi quên mất những nền tảng tinh thần quan trọng. Chính vì vậy, việc giáo dục lịch sử, giáo dục truyền thống trở nên cần thiết hơn bao giờ hết không phải để hoài niệm, mà để định hướng tương lai.
Trong hành trình hướng tới mục tiêu xây dựng một đất nước Việt Nam phát triển, phồn vinh và hạnh phúc, vai trò của thế hệ trẻ là không thể thay thế. Những bài học từ Điện Biên Phủ về ý chí, đoàn kết, sáng tạo và khát vọng chính là hành trang quý giá giúp người trẻ vững bước. Đó không phải là điều xa vời, mà là những giá trị có thể áp dụng trong chính cuộc sống hằng ngày như kiên trì theo đuổi ước mơ, không ngại khó khăn, luôn hướng đến những mục tiêu lớn lao cho bản thân, gia đình, xã hội góp phần nhỏ bé của mình vào xây dựng, bảo vệ tổ quốc thêm hùng cường, giàu mạnh.